|
Ví dụ: Áp dụng vào tình huống bài tập mẫu (vụ án N đã được tóm tắt ở mục 1.3.2 – Chương 1), có thể xác định các vấn đề pháp lý trọng tâm mà Thẩm phán cần làm rõ và lập luận trong bản án sơ thẩm như sau:
Trước tiên, Thẩm phán cần xác định tính hợp pháp của hoạt động tố tụng. Đối với vụ án N nêu trên, Thẩm phán cần kiểm tra: Việc bắt quả tang, thu giữ vật chứng có đúng quy định không; Hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có đúng thẩm quyền, trình tự không; Bị cáo có khiếu nại không. Khi đã xác định hợp pháp, Thẩm phán viết phần này theo hướng như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Thứ hai, xác định các chứng cứ có tội của bị cáo. Từ vụ án, Thẩm phán cần làm rõ các nội dung đã được chứng minh tại phiên tòa: bị cáo một mình đi vào khu rừng thuộc địa phận tỉnh Y và phát hiện, bắt được một cá thể rắn; bị cáo kiểm tra và biết đó là rắn hổ mang chúa; mặc dù biết đây là loài động vật nguy cấp, quý, hiếm không được săn bắt, buôn bán nhưng bị cáo vẫn mang về cất giấu nhằm mục đích bán lấy tiền; sau đó liên hệ với người tên Q để thỏa thuận bán với giá 1.000.000 đồng; đến ngày 16/4/2025, bị cáo mang rắn đến địa điểm đã hẹn, mở cho Q xem và đang chờ nhận tiền thì bị bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Đồng thời, Thẩm phán phải kiểm tra sự phù hợp giữa lời khai của bị cáo với biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ và kết luận giám định về loài rắn. Khi các tình tiết này thống nhất và có căn cứ, Thẩm phán cần thể hiện trong phần nhận định theo hướng sau:
[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 14/4/2025, N đã có hành vi săn bắt 01 cá thể rắn hổ chúa là loài có tên trong Phụ lục I, danh mục các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ, đồng thời có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ, mục đích để bán lấy tiền.
Khoảng 9 giờ ngày 16/4/2025, tại khu vực thuộc địa phận tỉnh Y, N có hành vi bán trái phép 01 cá thể rắn hổ chúa nêu trên cho đối tượng tên Q (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng. Khi N đang đứng chờ Q đi rút tiền để trả thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đối với N và thu giữ toàn bộ tang vật. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực…tỉnh Y đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
Thứ ba, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự. Từ vụ án, Thẩm phán cần rà soát: bị cáo N có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không; có các tình tiết giảm nhẹ TNHS không; đồng thời xem xét nhân thân, điều kiện cư trú của bị cáo để đánh giá khả năng tự cải tạo. Ví dụ trong vụ án N, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Thẩm phán thể hiện nội dung này trong phần nhận định như sau:
[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo hiện nay có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Xét mức hình phạt khởi điểm theo đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và không có thu nhập ổn định; mặt khác bị cáo chưa hưởng được lợi từ việc bán rắn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Thứ tư, giải quyết vấn đề xử lý vật chứng. Từ tình tiết vụ án, Thẩm phán cần xác định: cá thể rắn hổ chúa là đối tượng thuộc diện bảo vệ cần giao cho cơ quan chuyên trách xử lý; các vật như bao tải, thùng catton là vật không có giá trị cần tiêu hủy; xe mô tô cần xem xét quyền sở hữu; điện thoại là phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội.
Phần nhận định sẽ thể hiện như sau:
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với cá thể rắn hổ chúa còn sống, Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã để chăm sóc, nuôi dưỡng và xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 56A-333.33, nếu là xe của bị cáo thì tịch thu xung ngân sách nhà nước, còn nếu là tài sản của người khác thì trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với tài sản liên quan hành vi phạm tội nhưng không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy gồm 01 túi lưới màu trắng, 01 bao tải dứa màu trắng, 01 thùng catton.
Đối với 01 (một) điện thoại di động là điện thoại của bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Cuối cùng, Thẩm phán cần làm rõ các vấn đề liên quan và thủ tục tố tụng khác, bảo đảm bản án giải quyết toàn diện vụ án. Từ vụ án, cần xác định: đối tượng Q chưa rõ nhân thân nên không có căn cứ xử lý; các nghĩa vụ về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
Phần nhận định có thể thể hiện:
[5] Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên Q là người thỏa thuận mua rắn hổ chúa với N (như N khai), Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được để xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo có quyền kháng cáo theo theo quy định của pháp luật.
|