2.2.3. Xây dựng phần nhận định trong bản án sơ thẩm

2.3. Xây dựng phần nhận định trong bản án sơ thẩm

2.3.1. Xác định các vấn đề pháp lý trọng tâm cần lập luận trong bản án

Một bản án hình sự do Tòa án ban hành phải bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, qua đó thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và góp phần củng cố niềm tin của xã hội vào công lý. Để đạt được yêu cầu này, bản án phải được xây dựng trên cơ sở lập luận chặt chẽ, logic, dựa trên việc phân tích, đánh giá đầy đủ các chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và việc áp dụng đúng các quy định pháp luật có liên quan.

Phần nhận định của bản án sơ thẩm là bộ phận trung tâm thể hiện lập luận pháp lý của Tòa án. Trong phần này, Hội đồng xét xử đánh giá kết quả xét hỏi, tranh tụng và các chứng cứ của vụ án để xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và quyết định việc áp dụng pháp luật. Chất lượng của phần nhận định phụ thuộc vào việc Thẩm phán xác định đúng và đầy đủ các vấn đề pháp lý cần được lập luận trong bản án.

Đối với các vụ án hình sự liên quan đến ĐVHD, việc xây dựng phần nhận định phải bám sát các tình tiết đã được làm rõ tại phiên tòa và các quy định pháp luật có liên quan. Những nội dung không được kiểm tra, làm rõ tại phiên tòa hoặc không có căn cứ chứng minh hợp pháp thì không được sử dụng làm căn cứ lập luận trong bản án. Đây là cơ sở để bảo đảm tính khách quan, chặt chẽ và thuyết phục của bản án sơ thẩm.

Ví dụ: Áp dụng vào tình huống bài tập mẫu (vụ án N đã được tóm tắt ở mục 1.3.2 – Chương 1), có thể xác định các vấn đề pháp lý trọng tâm mà Thẩm phán cần làm rõ và lập luận trong bản án sơ thẩm như sau:

Trước tiên, Thẩm phán cần xác định tính hợp pháp của hoạt động tố tụng. Đối với vụ án N nêu trên, Thẩm phán cần kiểm tra: Việc bắt quả tang, thu giữ vật chứng có đúng quy định không; Hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có đúng thẩm quyền, trình tự không; Bị cáo có khiếu nại không. Khi đã xác định hợp pháp, Thẩm phán viết phần này theo hướng như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Thứ hai, xác định các chứng cứ có tội của bị cáo. Từ vụ án, Thẩm phán cần làm rõ các nội dung đã được chứng minh tại phiên tòa: bị cáo một mình đi vào khu rừng thuộc địa phận tỉnh Y và phát hiện, bắt được một cá thể rắn; bị cáo kiểm tra và biết đó là rắn hổ mang chúa; mặc dù biết đây là loài động vật nguy cấp, quý, hiếm không được săn bắt, buôn bán nhưng bị cáo vẫn mang về cất giấu nhằm mục đích bán lấy tiền; sau đó liên hệ với người tên Q để thỏa thuận bán với giá 1.000.000 đồng; đến ngày 16/4/2025, bị cáo mang rắn đến địa điểm đã hẹn, mở cho Q xem và đang chờ nhận tiền thì bị bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Đồng thời, Thẩm phán phải kiểm tra sự phù hợp giữa lời khai của bị cáo với biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ và kết luận giám định về loài rắn. Khi các tình tiết này thống nhất và có căn cứ, Thẩm phán cần thể hiện trong phần nhận định theo hướng sau:

[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 14/4/2025, N đã có hành vi săn bắt 01 cá thể rắn hổ chúa là loài có tên trong Phụ lục I, danh mục các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ, đồng thời có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ, mục đích để bán lấy tiền.

Khoảng 9 giờ ngày 16/4/2025, tại khu vực thuộc địa phận tỉnh Y, N có hành vi bán trái phép 01 cá thể rắn hổ chúa nêu trên cho đối tượng tên Q (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng. Khi N đang đứng chờ Q đi rút tiền để trả thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đối với N và thu giữ toàn bộ tang vật. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực…tỉnh Y đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

Thứ ba, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự. Từ vụ án, Thẩm phán cần rà soát: bị cáo N có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không; có các tình tiết giảm nhẹ TNHS không; đồng thời xem xét nhân thân, điều kiện cư trú của bị cáo để đánh giá khả năng tự cải tạo. Ví dụ trong vụ án N, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Thẩm phán thể hiện nội dung này trong phần nhận định như sau:

[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo hiện nay có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Xét mức hình phạt khởi điểm theo đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và không có thu nhập ổn định; mặt khác bị cáo chưa hưởng được lợi từ việc bán rắn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Thứ tư, giải quyết vấn đề xử lý vật chứng. Từ tình tiết vụ án, Thẩm phán cần xác định: cá thể rắn hổ chúa là đối tượng thuộc diện bảo vệ cần giao cho cơ quan chuyên trách xử lý; các vật như bao tải, thùng catton là vật không có giá trị cần tiêu hủy; xe mô tô cần xem xét quyền sở hữu; điện thoại là phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội.

Phần nhận định sẽ thể hiện như sau:

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với cá thể rắn hổ chúa còn sống, Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã để chăm sóc, nuôi dưỡng và xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 56A-333.33, nếu là xe của bị cáo thì tịch thu xung ngân sách nhà nước, còn nếu là tài sản của người khác thì trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với tài sản liên quan hành vi phạm tội nhưng không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy gồm 01 túi lưới màu trắng, 01 bao tải dứa màu trắng, 01 thùng catton.

Đối với 01 (một) điện thoại di động là điện thoại của bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cuối cùng, Thẩm phán cần làm rõ các vấn đề liên quan và thủ tục tố tụng khác, bảo đảm bản án giải quyết toàn diện vụ án. Từ vụ án, cần xác định: đối tượng Q chưa rõ nhân thân nên không có căn cứ xử lý; các nghĩa vụ về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Phần nhận định có thể thể hiện:

[5] Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên Q là người thỏa thuận mua rắn hổ chúa với N (như N khai), Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được để xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo có quyền kháng cáo theo theo quy định của pháp luật.

 

2.3.2. Tra cứu và lựa chọn căn cứ pháp lý

Trên cơ sở các vấn đề pháp lý trọng tâm, Thẩm phán sử dụng Bảng chỉ dẫn P2P để đối chiếu, lựa chọn căn cứ pháp lý phù hợp làm nền tảng cho phần Nhận định. Việc viện dẫn phải đảm bảo tính cập nhật, tập trung vào các quy định trực tiếp, tránh dàn trải. Các nhóm văn bản cần tập trung bao gồm:

- Nhóm văn bản nguồn: viện dẫn chính xác điều, khoản của BLHS và BLTTHS. Đặc biệt lưu ý các Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (như Nghị quyết 05/2018/NQ-HĐTP, Án lệ số 58/2023/AL) để thống nhất cách hiểu về tội danh và tình tiết định khung.

- Nhóm pháp luật chuyên ngành: tra cứu danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm tại Thông tư 85/2025/TT-BNNMT, và các nghị định, thông tư hướng dẫn về các hoạt động quản lý, bảo vệ ĐVHD, các công tác định giá, giám định tư pháp…

- Điều ước quốc tế: tra cứu danh mục loài tại Phụ lục CITES hay các quy định về hoạt động thương mại quốc tế đối với ĐVHD

2.3.3. Xử lý vật chứng

Trong các vụ án hình sự liên quan đến ĐVHD, việc xử lý vật chứng là một nội dung đặc thù, có ý nghĩa quan trọng cả về mặt pháp lý, thực tiễn và bảo đảm chính sách bảo vệ ĐVHD, động vật nguy cấp, quý, hiếm của Nhà nước. Thẩm phán cần tra cứu bảng chỉ dẫn P2P và đối chiếu với quy định tại Điều 47 BLHS để xác định đầy đủ và lập luận đưa ra căn cứ về hình thức xử lý vật chứng trong bản án.

Một số loại vật chứng và cách thức:

- Nhóm động vật, cá thể bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật: cần làm rõ tình trạng của động vật tại thời điểm thu giữ, kết quả giám định, kết luận định giá (nếu có), và các biện pháp xử lý đã được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố. Khi quyết định xử lý vật chứng là ĐVHD, Thẩm phán phải căn cứ vào thứ tự ưu tiên xử lý theo quy định của pháp luật chuyên ngành, bảo đảm việc xử lý phù hợp với đặc điểm sinh học của động vật, mục tiêu bảo tồn và yêu cầu thực tiễn. 

- Nhóm vật, tiền do phạm tội mà có: Xác định rõ vật/tiền trực tiếp từ tội phạm, các khoản thu lợi bất chính từ giao dịch mua bán, môi giới ĐVHD để tịch thu

- Nhóm các phương tiện, công cụ được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội:  Nếu vật chứng không còn giá trị sử dụng hoặc thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, thì quyết định tiêu hủy; ngược lại, nếu còn giá trị thì tịch thu sung công quỹ.

- Nhóm các vật chứng khác như dữ liệu điện tử, tài liệu, đồ vật liên quan khác: Xác định giá trị chứng minh của các vật chứng này, sau đó xác định rõ việc lưu giữ, trả lại hoặc tiêu hủy theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

2.3.4. Kết luận và đưa ra quyết định của bản án

Sau khi hoàn thiện phần nhận định, Thẩm phán cần căn cứ vào các vấn đề đã được phân tích, lập luận trong phần nhận định để xây dựng phần Quyết định của bản án. Thẩm phán sử dụng Bảng chỉ dẫn P2P làm công cụ rà soát cuối cùng để đảm bảo tính chính xác, toàn diện của các quyết định, cụ thể:

Thứ nhất, quyết định về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt.

Trên cơ sở kết luận về hành vi phạm tội, đối tượng bị xâm hại và các tình tiết định khung đã được phân tích trong phần nhận định, Thẩm phán tra cứu bảng chỉ dẫn P2P để xác định chính xác điều, khoản của BLHS được áp dụng đối với từng bị cáo. Việc tra cứu này giúp bảo đảm sự phân biệt các điều tránh nhầm lẫn dẫn đến áp dụng sai tội danh và khung hình phạt. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử quyết định loại hình phạt, mức hình phạt chính và hình phạt bổ sung (nếu có), bảo đảm việc cá thể hóa hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và vai trò của từng bị cáo trong vụ án.

Thứ hai, quyết định về xử lý vật chứng.

Như đã phân tích ở mục trên, việc tra cứu này giúp bảo đảm sự thống nhất giữa phần nhận định và phần quyết định của bản án, đồng thời tránh áp dụng sai hình thức xử lý vật chứng. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử quyết định hình thức xử lý vật chứng cụ thể theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP và các văn bản hướng dẫn có liên quan.

Thứ ba, quyết định về các vấn đề khác của vụ án.

Ngoài các nội dung nêu trên, Thẩm phán cần tra cứu bảng chỉ dẫn P2P để rà soát đầy đủ các vấn đề còn lại phải được quyết định trong bản án, như trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có); trường hợp bị cáo đang tại ngoại thì xem xét và quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn để bảo đảm thi hành án.



1. Phần I: Bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã1. Phần I: Bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

1. Phần I: Bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

1.1. Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tội phạm liên quan đến động vật hoang dã1.1. Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1. Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1.1 Khái niệm tội phạm liên quan đến động vật hoang dã1.1.1 Khái niệm tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1.1 Khái niệm tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1.2. Đặc điểm của tội phạm liên quan đến động vật hoang dã1.1.2. Đặc điểm của tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1.2. Đặc điểm của tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.2. Chương 2: Nội dung bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã1.2. Chương 2: Nội dung bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

1.2. Chương 2: Nội dung bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

1.2.1. Nhận thức chung về phương pháp P2P và bảng chỉ dẫn P2P1.2.1. Nhận thức chung về phương pháp P2P và bảng chỉ dẫn P2P

1.2.1. Nhận thức chung về phương pháp P2P và bảng chỉ dẫn P2P

1.2.2. Hướng dẫn sử dụng bảng chỉ dẫn P2P1.2.2. Hướng dẫn sử dụng bảng chỉ dẫn P2P

1.2.2. Hướng dẫn sử dụng bảng chỉ dẫn P2P

1.2.3. Nội dung bảng chỉ dẫn P2P đối với tội vi phạm quy định bảo vệ ĐVHD và các tội phạm khác có liên quan1.2.3. Nội dung bảng chỉ dẫn P2P đối với tội vi phạm quy định bảo vệ ĐVHD và các tội phạm khác có liên quan

1.2.3. Nội dung bảng chỉ dẫn P2P đối với tội vi phạm quy định bảo vệ ĐVHD và các tội phạm khác có liên quan

1.2.3.01. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234 BLHS)1.2.3.01. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234 BLHS)

1.2.3.01. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234 BLHS)

1.2.3.02. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 BLHS)1.2.3.02. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 BLHS)

1.2.3.02. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 BLHS)

1.2.3.03. Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242 BLHS)1.2.3.03. Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242 BLHS)

1.2.3.03. Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242 BLHS)

1.2.3.04. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS)1.2.3.04. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS)

1.2.3.04. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS)

1.2.3.05. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191 BLHS)1.2.3.05. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191 BLHS)

1.2.3.05. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191 BLHS)

1.2.3.06. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ (Điều 306 BLHS)1.2.3.06. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ (Điều 306 BLHS)

1.2.3.06. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ (Điều 306 BLHS)

1.2.3.07. Tội rửa tiền (Điều 324 BLHS)1.2.3.07. Tội rửa tiền (Điều 324 BLHS)

1.2.3.07. Tội rửa tiền (Điều 324 BLHS)

1.2.3.08. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS)1.2.3.08. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS)

1.2.3.08. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS)

1.2.3.09. Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS)1.2.3.09. Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS)

1.2.3.09. Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS)

1.2.3.10. Tội giả mạo trong công tác (Điều 359 BLHS)1.2.3.10. Tội giả mạo trong công tác (Điều 359 BLHS)

1.2.3.10. Tội giả mạo trong công tác (Điều 359 BLHS)

2. Phần II: Hướng dẫn sử dụng P2P trong hoạt động xét xử tội phạm liên quan đến động vật hoang dã2. Phần II: Hướng dẫn sử dụng P2P trong hoạt động xét xử tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

2. Phần II: Hướng dẫn sử dụng P2P trong hoạt động xét xử tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

2.1. Chương 1: Sử dụng P2P phục vụ cho giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm2.1. Chương 1: Sử dụng P2P phục vụ cho giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

2.1. Chương 1: Sử dụng P2P phục vụ cho giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

2.1.1. Khái quát chung về giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã2.1.1. Khái quát chung về giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã

2.1.1. Khái quát chung về giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã

2.1.2. Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lí vụ án liên quan đến động vật hoang dã2.1.2. Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lí vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.1.2. Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lí vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.1.3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến động vật hoang dã2.1.3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.1.3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.1.4. Ban hành các quyết định và tiến hành một số hoạt động khác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm2.1.4. Ban hành các quyết định và tiến hành một số hoạt động khác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

2.1.4. Ban hành các quyết định và tiến hành một số hoạt động khác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

2.1.5. Xác định các vấn đề pháp lý trọng tâm và dự kiến tình huống phát sinh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm2.1.5. Xác định các vấn đề pháp lý trọng tâm và dự kiến tình huống phát sinh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm

2.1.5. Xác định các vấn đề pháp lý trọng tâm và dự kiến tình huống phát sinh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm

2.1.6. Thực hiện các hoạt động cần thiết để chuẩn bị mở phiên toà xét xử sơ thẩm2.1.6. Thực hiện các hoạt động cần thiết để chuẩn bị mở phiên toà xét xử sơ thẩm

2.1.6. Thực hiện các hoạt động cần thiết để chuẩn bị mở phiên toà xét xử sơ thẩm

2.2. Chương 2: Sử dụng P2P Phục vụ cho hoạt động xét xử tại phiên toà sơ thẩm và sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm2.2. Chương 2: Sử dụng P2P Phục vụ cho hoạt động xét xử tại phiên toà sơ thẩm và sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm

2.2. Chương 2: Sử dụng P2P Phục vụ cho hoạt động xét xử tại phiên toà sơ thẩm và sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm

2.2.1. Xác định các vấn đề cần làm rõ khi xét hỏi tại phiên tòa2.2.1. Xác định các vấn đề cần làm rõ khi xét hỏi tại phiên tòa

2.2.1. Xác định các vấn đề cần làm rõ khi xét hỏi tại phiên tòa

2.2.2. Điều hành các hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm2.2.2. Điều hành các hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm

2.2.2. Điều hành các hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm

2.2.3. Xây dựng phần nhận định trong bản án sơ thẩm2.2.3. Xây dựng phần nhận định trong bản án sơ thẩm

2.2.3. Xây dựng phần nhận định trong bản án sơ thẩm

2.2.4. Một số sai sót thường gặp khi không sử dụng P2P trong việc giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã2.2.4. Một số sai sót thường gặp khi không sử dụng P2P trong việc giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.2.4. Một số sai sót thường gặp khi không sử dụng P2P trong việc giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.3. Chương 3: Một số tình huống pháp lý điển hình trong xét xử các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã2.3. Chương 3: Một số tình huống pháp lý điển hình trong xét xử các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

2.3. Chương 3: Một số tình huống pháp lý điển hình trong xét xử các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

2.3.1. Mục đích của việc xây dựng các tình huống tham khảo2.3.1. Mục đích của việc xây dựng các tình huống tham khảo

2.3.1. Mục đích của việc xây dựng các tình huống tham khảo

2.3.2. Phạm vi của các tình huống được lựa chọn2.3.2. Phạm vi của các tình huống được lựa chọn

2.3.2. Phạm vi của các tình huống được lựa chọn

2.3.3. Các tình huống cụ thể2.3.3. Các tình huống cụ thể

2.3.3. Các tình huống cụ thể

Danh mục tài liệu thao khảoDanh mục tài liệu thao khảo

Danh mục tài liệu thao khảo


Copyright 2007-2021 by Wildlife Conservation Society

WCS, the "W" logo, WE STAND FOR WILDLIFE, I STAND FOR WILDLIFE, and STAND FOR WILDLIFE are service marks of Wildlife Conservation Society.

Contact Information
Address: 2300 Southern Boulevard Bronx, New York 10460 | (718) 220-5100