|
- Hành vi khách quan: Hành vi vi phạm quy định về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, có thể là một trong các dạng hành vi:
+ Sử dụng chất độc, chất nổ, hóa chất, dòng điện hoặc phương tiện, ngư cụ bị cấm để khai thác thủy sản hoặc làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản.
+ Khai thác thủy sản trong khu vực cấm có thời hạn: Là trường hợp vi phạm quy định về thời gian cấm khai thác thuỷ sản trong khu vực nhất định theo Danh mục khu vực cấm khai thác thuỷ sản có thời hạn tại Phụ lục XI Thông tư số 88/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025.
+ Khai thác loài thủy sản bị cấm khai thác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 244 BLHS: Là hành vi vi phạm quy định về khai thác các loài thủy sản bị cấm, tuy nhiên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 244 BLHS .
+ Phá hoại nơi cư ngụ của loài thủy sản thuộc Danh mục loài ưu tiên : Đây là hành vi xâm phạm môi trường sống tự nhiên của các loài thủy sản, thể hiện qua việc xả thải, đổ hóa chất, vứt bỏ ngư cụ hoặc thả các loài thiên địch vào môi trường nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện sống, khiến các loài thủy sản này bị chết hoặc phải di chuyển sang khu vực khác.
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
+ Vi phạm quy định khác của pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản: được quy định tại Điều 7 Luật Thuỷ sản năm 2017 như: Cản trở trái phép đường di cư tự nhiên của loài thủy sản; vứt bỏ ngư cụ xuống vùng nước tự nhiên, trừ trường hợp bất khả kháng; phá hủy, tháo dỡ gây hư hại, lấn chiếm phạm vi công trình của cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; xả chất thải không đúng nơi quy định trong khu vực cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá…
- Thực hiện các hành vi trên chỉ bị truy cứu TNHS về tội danh này nếu thuộc các trường hợp sau:
+ Gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 100.000.000 đồng trở lên;
+ Thủy sản thu được trị giá từ 50.000.000 đồng trở lên;
+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 242 hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
- Thời gian, địa điểm phạm tội: Không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm nhưng có thể làm rõ để giúp xác định một số vấn đề liên quan trong quá trình giải quyết vụ án liên quan đến vấn đề xác định độ tuổi chịu TNHS của người phạm tội hay thời điểm thành lập của PNTM làm cơ sở để truy cứu TNHS và xác định thẩm quyền giải quyết.
- Thủ đoạn, cách thức thực hiện tội phạm: Có thể xem xét việc thực hiện tội phạm có liên quan đến tội phạm khác hay không?
|