2.1.3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến động vật hoang dã

1.3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến động vật hoang dã

Thẩm phán có thể nghiên cứu hồ sơ vụ án theo một trong ba trình tự sau:

- Trình tự thứ nhất: Nghiên cứu theo trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết vụ án từ đầu cho đến khi Viện kiểm sát có quyết định truy tố bị can và chuyển hồ sơ đến Tòa án (tức là đọc lần lượt tài liệu từ đầu đến cuối);

- Trình tự thứ hai: Nghiên cứu phần thủ tục tố tụng trước (gồm: các quyết định; biên bản; tài liệu phản ánh các hoạt động tố tụng), sau đó nghiên cứu đến các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra, truy tố, tài liệu bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử;

- Trình tự thứ ba: Nghiên cứu kết luận điều tra, cáo trạng trước, tiếp theo nghiên cứu tài liệu thể hiện cơ sở khởi tố vụ án như: Biên bản bắt người có hành vi phạm pháp quả tang, biên bản trình báo sự việc, bản tường trình sự việc; các tài liệu về hoạt động điều tra ban đầu gồm: khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, định giá tài sản, biên bản lấy lời khai, xác minh… và các tài liệu thể hiện hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử.

Tùy thuộc vào từng hồ sơ vụ án, nếu hồ sơ đơn giản, ít bị cáo thì nên nghiên cứu theo trình tự thứ nhất; nếu vụ án phức tạp, nhiều đối tượng, nhiều hành vi phạm tội thì nên nghiên cứu kết hợp giữa trình tự thứ hai và trình tự thứ ba. Thông thường nên triển khai nghiên cứu theo trình tự thứ ba trước, sau đó củng cố tài liệu, làm sáng rõ toàn bộ nội dung vụ án thì sẽ áp dụng trình tự thứ hai, thứ nhất để nghiên cứu, vừa nhanh vừa chính xác, vừa đầy đủ không bỏ sót chi tiết. Khi nghiên cứu, cần trích cứu một cách ngắn gọn, cụ thể các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vì nếu không thực hiện việc trích cứu thì sẽ bị lãng quên, bỏ sót các chứng cứ quan trọng, có ý nghĩa chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Việc trích cứu hồ sơ, tài liệu đòi hỏi phải logic, khoa học sao cho dễ dàng khai thác, sử dụng để phục vụ tốt cho hoạt động chứng minh, thẩm vấn và kết tội tại phiên tòa.

Cho dù áp dụng trình tự nghiên cứu nào, Thẩm phán cũng phải đảm bảo nghiên cứu đầy đủ hai khía cạnh: (1) Về hình thức, kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra và truy tố; (2) Về nội dung, nghiên cứu các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự. Cụ thể như sau:

1.3.1. Về hình thức, kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra và truy tố

Trước khi nghiên cứu hồ sơ về mặt nội dung, thẩm phán cần phải nghiên cứu hồ sơ về mặt tố tụng, kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra và truy tố. Thẩm phán cần phải kiểm tra xem tài liệu có được thu thập đúng với các quy định trong BLTTHS hay không. Các nội dung cần kiểm tra bao gồm:

- Chủ thể tiến hành hoạt động điều tra có đúng thẩm quyền theo quy định của BLTTHS hay không.

Ví dụ: Điều tra viên không được là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo. Thẩm phán cần kiểm tra quyết định phân công điều tra viên tiến hành điều tra vụ án hình sự có phải là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo không.

- Trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động điều tra có tuân thủ theo quy định của BLTTHS hay không.

Ví dụ: Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTHS . Việc này phải ghi vào biên bản. Thẩm phán cần kiểm tra biên bản hỏi cung lần đầu có thể hiện việc điều tra viên đã giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can hay không.

- Thời gian, thời hạn tiến hành hoạt động điều tra.

Ví dụ: Theo quy định của BLTTHS, không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Thẩm phán cần kiểm tra thời gian hỏi cung được ghi trong biên bản hỏi cung và nếu hỏi cung được tiến hành vào ban đêm thì trong biên bản có nêu lý do hay không.

- Thành phần tham gia hoạt động tố tụng.

Ví dụ: Nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai. Thẩm phán cần kiểm tra biên bản ghi lời khai của người làm chứng xem có lấy lời khai riêng của từng người hay không, nội dung biên bản ghi lời khai của người làm chứng có thể hiện họ có tiếp xúc, trao đổi với nhau trong quá trình lấy lời khai hay không.

- Hình thức văn bản tố tụng.

Văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các văn bản tố tụng khác trong hoạt động tố tụng được lập theo mẫu thống nhất. Văn bản tố tụng ghi rõ: Số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng; Căn cứ ban hành văn bản tố tụng; Nội dung của văn bản tố tụng; Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu. Chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng là chữ ký trực tiếp hoặc chữ ký số.

Thẩm phán cần phải kiểm tra hình thức của các văn bản tố tụng có đúng theo quy định của BLTTHS hay không.

1.3.2. Về nội dung, nghiên cứu các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự

Việc nghiên cứu các vấn đề cần chứng minh có ý nghĩa quan trọng đối với thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bởi đây là cơ sở để xác định đúng phạm vi xét xử, đánh giá tính hợp pháp, tính liên quan và giá trị chứng minh của các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án; từ đó, giúp thẩm phán nhận diện những vấn đề còn mâu thuẫn hoặc chưa được làm rõ để chuẩn bị xét hỏi và tranh tụng tại phiên toà. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu theo các nội dung trên và xác định chứng cứ kèm theo cũng là hoạt động giúp thẩm phán rà soát chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó, thẩm phán có thể yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc trong trường hợp xét thấy không thể bổ sung chứng cứ tại phiên toà thì thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung.

Các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự mà thẩm phán cần phải nghiên cứu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bao gồm:

- Hành vi khách quan của tội phạm

Thẩm phán cần phải xác định có hành vi phạm tội xảy ra hay không. Trường hợp xác định có hành vi phạm tội, phải làm rõ hành vi cụ thể là hành vi gì (săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán…), thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện. Mỗi nội dung cần được đối chiếu với chứng cứ cụ thể trong hồ sơ. Thẩm phán phải ghi rõ chứng cứ dùng để chứng minh và bút lục số bao nhiêu. 

Trong vụ án có nhiều người tham gia, Thẩm phán cần cá thể hóa hành vi của từng bị can, bị cáo theo chuỗi sự kiện của vụ án, làm rõ: (i) bị can, bị cáo thực hiện hành vi nào (đặt hàng, liên hệ nguồn, thỏa thuận giá, nhận tiền, giao hàng, vận chuyển, cất giấu, nuôi nhốt, chế biến, tiêu thụ…); (ii) bị can, bị cáo thực hiện hành vi đó một mình hay cùng người khác, có sự phân công vai trò hay không; (iii) hành vi của bị can, bị cáo có quan hệ trực tiếp như thế nào với vật chứng và với hành vi của các bị cáo khác. Khi đánh giá, Thẩm phán cần đặc biệt xác định rõ vai trò người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức trong vụ án. Mỗi hành vi và vai trò của từng bị can, bị cáo phải được chứng minh bằng tập hợp chứng cứ tương ứng và xác định rõ bút lục.

Trong trường hợp chứng cứ mâu thuẫn hoặc thiếu căn cứ, thẩm phán phải xác định rõ điểm cần làm rõ tại phiên tòa và người cần triệu tập/đối chất để bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Dấu hiệu định lượng và mức định lượng

Dấu hiệu định lượng và mức định lượng là yếu tố bắt buộc khi định tội danh đối với một số tội như tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã; tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản; tội sản xuất, buôn bán hàng cấm… Ngoài ra, đối với một số tội, dấu hiệu định lượng và mức định lượng còn có thể là tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ như tội rửa tiền; tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ… Vì vậy, qua việc nghiên cứu hồ sơ, thẩm phán cần xác định rõ tình tiết định lượng trong vụ án (số lượng cá thể; khối lượng; số lượng bộ phận/sản phẩm; lợi nhuận bất chính…), chứng cứ dùng để chứng minh và bút lục tương ứng.

- Đối tượng tác động của tội phạm

Đối tượng tác động là yếu tố then chốt trong các vụ án liên quan đến ĐVHD, giúp phân biệt giữa tội danh này với tội danh khác và giữa ranh giới bị xử lý hình sự hay không bị xử lý hình sự. Cụ thể, khi xác định đối tượng tác động, thẩm phán cần xác định loài động vật gì; mẫu vật dạng nào (cá thể, bộ phận cơ thể, hay sản phẩm của động vật); tình trạng bảo vệ của loài động vật đó (thuộc Danh mục loài  ưu tiên bảo vệ; Nhóm IB/ vNhóm IIB; hay thuộc Phụ lục I, II, III CITES). Trong trường hợp cần thiết, việc làm rõ đối tượng tác động sẽ là cơ sở để thẩm phán quyết định triệu tập giám định viên, đại diện cơ quan chuyên ngành tại phiên toà. Việc xác định rõ đối tượng tác động cũng cần phải gắn với việc xác định chứng cứ dùng để chứng minh và bút lục số bao nhiêu.

- Chủ thể của tội phạm

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm phán cần xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội; người đó có đủ tuổi chịu TNHS hay không; có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi hay không.

Đối với một số tội bao gồm tội vi phạm quy định về bảo vệ ĐVHD; tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; tội huỷ hoại nguồn lợi thủ sản; tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; tội rửa tiền; chủ thể của tội phạm còn có thể bao gồm cả PNTM. Vì vậy, thẩm phán cần lưu ý để xác định đầy đủ điều kiện chịu TNHS của PNTM theo Điều 75 BLHS.

Đối với các hành vi tham nhũng gắn với vi phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD, thẩm phán còn cần làm rõ dấu hiệu đặc biệt về chức vụ, quyền hạn của chủ thể.

- Yếu tố lỗi

Dựa trên tình tiết trong vụ án, thẩm phán cần xác định chủ thể thực hiện hành vi phạm tội có lỗi hay không có lỗi. Trường hợp chủ thể đó có lỗi thì là loại lỗi gì, lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả.

- Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS, đặc điểm về nhân thân, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị can, bị cáo

Thẩm phán cần xác định đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo, bởi đối với một số tội danh quy định tại điều 234, 242, 244 BLHS, đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo (đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 234/Điều 244/Điều 242 BLHS; hoặc đã bị kết án theo Điều 234/Điều 244/Điều 242 BLHS, chưa được xoá án tích) sẽ là tình tiết định tội. Bên cạnh đó, đối với một số tội danh, đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo lại đóng vai trò là tình tiết có ý nghĩa định khung hình phạt như tái phạm nguy hiểm, phạm tội 02 lần trở lên…; hoặc có ý nghĩa quyết định hình phạt đối với bị can, bị cáo, ví dụ như: người phạm tội có cha, mẹ được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen về những thành tích xuất sắc trong công tác; người phạm tội có từ 03 con nhỏ trở lên đều dưới 15 tuổi hoặc có con bị khuyết tật nặng trở lên, bị bệnh hiểm nghèo mà vợ, chồng không có công ăn việc làm, gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận…

Ngoài ra, thẩm phán cũng cần xác định tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS của bị can, bị cáo quy định tại Điều 51, Điều 52 BLHS và nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị can, bị cáo. Các tình tiết này có ý nghĩa khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ TNHS, miễn TNHS, miễn hình phạt

Các tình tiết loại trừ TNHS như: sự kiện bất ngờ (Điều 20 BLHS), tình trạng không có năng lực TNHS (Điều 21 BLHS), phòng vệ chính đáng (Điều 22 BLHS), tình thế cấp thiết (Điều 23 BLHS), thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26 BLHS).

Các tình tiết liên quan đến việc miễn TNHS quy định tại Điều 29 BLHS như: có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội; người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận....

Các tình tiết liên quan đến việc miễn hình phạt quy định tại Điều 59 BLHS như: bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS.

* Các bước ứng dụng phương pháp P2P vào hoạt động nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

Bước 1: Xác định tội danh và điều luật để chứng minh theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát.[1]

Bước 2: Tra cứu Chỉ dẫn P2P (tại mục 2.3 Chương 2 của Tài liệu) để xác định các vấn đề cần chứng minh.

Bước 3: Đối chiếu các tình tiết trong vụ án với các vấn đề cần chứng minh.

Bước 4: Đối chiếu các chứng cứ và bút lục trong hồ sơ vụ án với các vấn đề cần chứng minh.

Bước 5: Tổng hợp kết quả để đưa ra kết luận (hồ sơ vụ án có những điểm mâu thuẫn trong vụ án cần làm rõ tại phiên toà; hoặc hồ sơ vụ án có những chứng cứ, tài liệu còn thiếu cần bổ sung tại phiên toà hay trả hồ sơ điều tra bổ sung…)

Mẫu Bảng nghiên cứu hồ sơ theo phương pháp P2P

Những vấn đề cần

chứng minh

Tình tiết trong vụ án

Chứng cứ/bút lục đang có trong vụ án

P1. Hành vi khách quan (tàng trữ/vận chuyển/mua bán/nuôi nhốt…) xảy ra ở đâu, khi nào

 

 

P2. Đối tượng tác động (Loài động vật, dạng mẫu vật và tình trạng bảo vệ của loài)

 

 

P3. Dấu hiệu định lượng và mức định lượng

 

 

P4. Chủ thể của tội phạm

 

 

P5. Yếu tố lỗi, mục đích, động cơ phạm tội

 

 

P6. Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; đặc điểm nhân thân; nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị can, bị cáo

 

 

P7. Tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ TNHS, miễn TNHS, miễn hình phạt

 

 

 

Thông tin vụ án:

Sáng ngày 14/4/2025, N sinh năm 1978 trú tại phường X tỉnh Y một mình lên khu rừng thuộc địa phận tỉnh Y để tìm trứng kiến về sử dụng. Quá trình di chuyển trong rừng, N nhìn thấy một cá thể động vật rừng là rắn hổ mang nên N dùng gậy, áo bắt con rắn. N kiểm tra phát hiện con rắn bắt được là loài rắn hổ mang chúa. N biết rắn hổ mang chúa là loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm không được săn bắt, buôn bán nhưng biết nếu đem bán sẽ được giá nên N đã mang con rắn trên về nhà để bán lấy tiền. Khi về nhà, N cho con rắn trên vào một túi lưới, đựng vào bao tải dứa rồi để vào 01 thùng catton cất giấu.

Do trước đó, N có quen biết người đàn ông giới thiệu tên Q (không rõ họ, năm sinh, trú quán; làm cầu đường, sử dụng số điện thoại 02224444, N lưu tên là Q cầu đường) và có nhu cầu mua các loại động vật rừng nên N gọi điện cho Q nói có 01 con rắn hổ mang chúa, muốn bán với giá 1 triệu đồng; Q đồng ý và bảo N sáng ngày 16/4/2025 mang rắn đến ngã ba phường Z tỉnh Y bán cho Q.

Khoảng 09 giờ ngày 16/4/2025, Q gọi điện bảo N mang rắn ra địa điểm đã hẹn trước đó. N lấy thùng catton đựng rắn ra để ở giá để hàng phía trước yên xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu nâu đen, biển kiểm soát 56A-333.33 rồi đi ra gặp Q. Khi đến nơi, N gặp Q và mở bao đựng rắn cho Q xem; Q đồng ý mua và bảo N đứng chờ để Q đi rút tiền trả cho N. Khi N đang đứng chờ Q thì bị Tổ công tác Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đối với N và thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 01 (một) cá thể động vật (nghi là rắn hổ mang chúa) được đựng trong bao lưới màu trắng, để trong một lồng sắt. Tổ công tác đã tiến hành cân, xác định trọng lượng của cá thể rắn là 1,6kg và niêm phong theo quy định; 01 (một) bao tải dứa màu trắng; 01 (một) thùng catton; 01 (một) chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Airblade, màu nâu đen, biển kiểm soát 56A-333.33; 01 (một) chiếc điện thoại di động.

Bản Kết quả giám định ngày 16/4/2025 của Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, kết luận:

“- Mẫu động vật giám định là rắn hổ chúa, có tên khoa học là Ophiophagus hannah.

- Loài rắn hổ chúa (tên khoa học: Ophiophagus hannah) có tên trong Phụ lục I, danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; loài rắn hổ chúa có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ”.

Với tình tiết vụ án như trên, Viện kiểm sát đã truy tố bị can N phạm vào tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 BLHS.

 

Các bước ứng dụng phương pháp P2P vào hoạt động nghiên cứu hồ sơ được thực hiện cụ thể như sau:

Bước 1: Xác định tội danh và điều luật để chứng minh theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Viện kiểm sát đã truy tố bị can N phạm vào tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 BLHS.

Vì vậy, tội danh và điều luật được thẩm phán sử dụng để chứng minh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 BLHS.

Bước 2: Tra cứu Chỉ dẫn P2P (tại mục 2.3 Chương 2 của Tài liệu) để xác định các vấn đề cần chứng minh.

Trên cơ sở tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại Điều 244 BLHS, thẩm phán tra cứu Chỉ dẫn P2P và xác định các vấn đề cần chứng minh như sau:

Những vấn đề cần chứng minh

Tình tiết trong vụ án

Chứng cứ/bút lục đang có trong vụ án

P1. Hành vi khách quan

- Hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán → động vật

- Hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán → cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật

- Hành vi xảy ra ở đâu, khi nào

 

 

P2. Đối tượng tác động

- Dạng mẫu vật: cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật; ngà voi, sừng tê giác

- Tình trạng bảo vệ: thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Nhóm IB hoặc Phụ lục I CITES

 

 

P3. Dấu hiệu định lượng và mức định lượng

- Động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ => Không yêu cầu mức định lượng

- Ngà voi => Từ 2kg trở lên; sừng tê giác => 50g trở lên

- Động vật thuộc nhóm IB hoặc Phụ lục I CITES mà không thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ => từ 03 cá thể trở lên với lớp thú; từ 07 cá thể trở lên với lớp chim, bò sát; từ 10 cá thể trở lên với động vật lớp khác

 

 

P4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể thường

 

 

P5. Yếu tố lỗi, mục đích, động cơ phạm tội

Lỗi cố ý

 

 

P6. Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; đặc điểm nhân thân; nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị can, bị cáo

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 244 BLHS

- Đã bị kết án theo Điều 244 BLHS, chưa được xoá án tích

 

 

P7. Tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ TNHS, miễn TNHS, miễn hình phạt

 

 

Bước 3: Đối chiếu các tình tiết trong vụ án với các vấn đề cần chứng minh.

Trên cơ sở đã xác định được những vấn đề cần chứng minh trong vụ án, thẩm phán sẽ đọc hồ sơ vụ án và tìm các tình tiết của vụ án tương ứng với những vấn đề cần chứng minh như sau:

Những vấn đề cần chứng minh

Tình tiết trong vụ án

Chứng cứ/bút lục đang có trong vụ án

P1. Hành vi khách quan

- Hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán → động vật

- Hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán → cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật

- Hành vi xảy ra ở đâu, khi nào

Hành vi săn bắt

 

P2. Đối tượng tác động

- Dạng mẫu vật: cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật; ngà voi, sừng tê giác

- Tình trạng bảo vệ: thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Nhóm IB hoặc Phụ lục I CITES

- Loài rắn hổ chúa

- Dạng mẫu vật: cá thể

- Tình trạng bảo vệ: Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ

 

P3. Dấu hiệu định lượng và mức định lượng

- Động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ => Không yêu cầu mức định lượng

- Ngà voi => Từ 2kg trở lên; sừng tê giác => 50g trở lên

- Động vật thuộc nhóm IB hoặc Phụ lục I CITES mà không thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ => từ 03 cá thể trở lên với lớp thú; từ 07 cá thể trở lên với lớp chim, bò sát; từ 10 cá thể trở lên với động vật lớp khác

01 cá thể

 

P4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể thường

N, sinh năm 1978

 

P5. Yếu tố lỗi, mục đích, động cơ phạm tội

Lỗi cố ý

Lỗi cố ý trực tiếp

 

P6. Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; đặc điểm nhân thân; nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị can, bị cáo

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 244 BLHS

- Đã bị kết án theo Điều 244 BLHS, chưa được xoá án tích

Không có tiền án, tiền sự

 

P7. Tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ TNHS, miễn TNHS, miễn hình phạt

Không có

 

Bước 4: Đối chiếu các chứng cứ và bút lục trong hồ sơ vụ án với các vấn đề cần chứng minh.

Sau khi đã xác định được các tình tiết của vụ án tương ứng với những vấn đề cần chứng minh, thẩm phán cần đọc hồ sơ và tìm các chứng cứ trong hồ sơ vụ án chứng minh cho các tình tiết mà thẩm phán vừa xác định được ở Bước 3. Đồng thời, thẩm phán cần ghi rõ các chứng cứ này nằm tại bút lục số bao nhiêu trong hồ sơ vụ án.

Những vấn đề cần

chứng minh

Tình tiết trong vụ án

Chứng cứ/bút lục đang có trong vụ án

P1. Hành vi khách quan

- Hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán → động vật

- Hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán → cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật

- Hành vi xảy ra ở đâu, khi nào

Hành vi săn bắt

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục số 76)

- Biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung (Bút lục số 124, 129, 130-140)

- Bản tường trình của N

(Bút lục số 127, 128)

- Biên bản xác minh không có camera tại hiện trường

(Bút lục số 55)

- Biên bản xác minh không có người tên Quân

(Bút lục số 56)

- Tài liệu chủ thuê bao 02224444 không liên quan đến bị can (Bút lục số 59 - 65; 120)

P2. Đối tượng tác động

- Dạng mẫu vật: cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật; ngà voi, sừng tê giác

- Tình trạng bảo vệ: thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Nhóm IB hoặc Phụ lục I CITES

- Loài rắn hổ chúa

- Dạng mẫu vật: cá thể

- Tình trạng bảo vệ: Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ

- Chứng cứ là Cá thể rắn thu được

- Quyết định trưng cầu giám định; Kết quả giám định; Thông báo kết luận giám định (Bút lục số 24 - 35)

- Bản ảnh (Bút lục số 80 - 86)

P3. Dấu hiệu định lượng và mức định lượng

- Động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ => Không yêu cầu mức định lượng

- Ngà voi => Từ 2kg trở lên; sừng tê giác => 50g trở lên

- Động vật thuộc nhóm IB hoặc Phụ lục I CITES mà không thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ => từ 03 cá thể trở lên với lớp thú; từ 07 cá thể trở lên với lớp chim, bò sát; từ 10 cá thể trở lên với động vật lớp khác

01 cá thể

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục số 76)

- Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ

(Bút lục số 78)

P4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể thường

N, sinh năm 1978

- Lý lịch cá nhân

(Bút lục số 39)

- Lý lịch bị can (Bút lục số 40)

P5. Yếu tố lỗi, mục đích, động cơ phạm tội

Lỗi cố ý

Lỗi cố ý trực tiếp

- Biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung (Bút lục số 124, 129, 130-140)

- Bản tường trình (Bút lục số 127, 128)

P6. Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; đặc điểm nhân thân; nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị can, bị cáo

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 244 BLHS

- Đã bị kết án theo Điều 244 BLHS, chưa được xoá án tích

Không có tiền án, tiền sự

- Biên bản xác minh về tiền án, tiền sự (Bút lục số 53)

- Biên bản xác minh hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế (Bút lục số 54)

P7. Tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ TNHS, miễn TNHS, miễn hình phạt

Không có

Không có

Bước 5: Tổng hợp kết quả để đưa ra kết luận (hồ sơ vụ án có những điểm mâu thuẫn trong vụ án cần làm rõ tại phiên toà; hoặc hồ sơ vụ án có những chứng cứ, tài liệu còn thiếu cần bổ sung tại phiên toà hay trả hồ sơ điều tra bổ sung…)

Từ việc nghiên cứu hồ sơ và tổng hợp, đánh giá các nội dung của vụ án dựa trên Bảng nghiên cứu hồ sơ theo phương pháp P2P có thể kết luận hồ sơ vụ án đã tương đối rõ ràng về tình tiết vụ án và đầy đủ về chứng cứ của vụ án, có thể xét xử bị can N về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại Điều 244 BLHS.

Có thể thấy, với phương pháp P2P, thẩm phán sẽ dễ dàng xác định hồ sơ vụ án đã đầy đủ hay chưa, phát hiện những điểm còn mâu thuẫn hoặc chưa được làm rõ. Phương pháp này đồng thời hỗ trợ thẩm phán xác định những vấn đề pháp lý trọng tâm, dự kiến những vấn đề phát sinh tại phiên tòa và chủ động xem xét việc triệu tập người tham gia tố tụng hoặc người giám định khi cần thiết. Nhờ đó, việc chuẩn bị xét xử được thực hiện một cách hệ thống, khoa học, góp phần bảo đảm phán quyết được ban hành trên cơ sở chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá đầy đủ ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

 

[1] Theo Điều 298 BLTTHS về giới hạn của việc xét xử quy định: “1. Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. 2. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. 3. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”. Vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm phán cần nghiên cứu từ tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố.



1. Phần I: Bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã1. Phần I: Bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

1. Phần I: Bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

1.1. Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tội phạm liên quan đến động vật hoang dã1.1. Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1. Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1.1 Khái niệm tội phạm liên quan đến động vật hoang dã1.1.1 Khái niệm tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1.1 Khái niệm tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1.2. Đặc điểm của tội phạm liên quan đến động vật hoang dã1.1.2. Đặc điểm của tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.1.2. Đặc điểm của tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

1.2. Chương 2: Nội dung bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã1.2. Chương 2: Nội dung bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

1.2. Chương 2: Nội dung bảng chỉ dẫn P2P trong áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

1.2.1. Nhận thức chung về phương pháp P2P và bảng chỉ dẫn P2P1.2.1. Nhận thức chung về phương pháp P2P và bảng chỉ dẫn P2P

1.2.1. Nhận thức chung về phương pháp P2P và bảng chỉ dẫn P2P

1.2.2. Hướng dẫn sử dụng bảng chỉ dẫn P2P1.2.2. Hướng dẫn sử dụng bảng chỉ dẫn P2P

1.2.2. Hướng dẫn sử dụng bảng chỉ dẫn P2P

1.2.3. Nội dung bảng chỉ dẫn P2P đối với tội vi phạm quy định bảo vệ ĐVHD và các tội phạm khác có liên quan1.2.3. Nội dung bảng chỉ dẫn P2P đối với tội vi phạm quy định bảo vệ ĐVHD và các tội phạm khác có liên quan

1.2.3. Nội dung bảng chỉ dẫn P2P đối với tội vi phạm quy định bảo vệ ĐVHD và các tội phạm khác có liên quan

1.2.3.01. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234 BLHS)1.2.3.01. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234 BLHS)

1.2.3.01. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234 BLHS)

1.2.3.02. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 BLHS)1.2.3.02. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 BLHS)

1.2.3.02. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 BLHS)

1.2.3.03. Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242 BLHS)1.2.3.03. Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242 BLHS)

1.2.3.03. Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242 BLHS)

1.2.3.04. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS)1.2.3.04. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS)

1.2.3.04. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS)

1.2.3.05. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191 BLHS)1.2.3.05. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191 BLHS)

1.2.3.05. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191 BLHS)

1.2.3.06. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ (Điều 306 BLHS)1.2.3.06. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ (Điều 306 BLHS)

1.2.3.06. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ (Điều 306 BLHS)

1.2.3.07. Tội rửa tiền (Điều 324 BLHS)1.2.3.07. Tội rửa tiền (Điều 324 BLHS)

1.2.3.07. Tội rửa tiền (Điều 324 BLHS)

1.2.3.08. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS)1.2.3.08. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS)

1.2.3.08. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS)

1.2.3.09. Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS)1.2.3.09. Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS)

1.2.3.09. Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS)

1.2.3.10. Tội giả mạo trong công tác (Điều 359 BLHS)1.2.3.10. Tội giả mạo trong công tác (Điều 359 BLHS)

1.2.3.10. Tội giả mạo trong công tác (Điều 359 BLHS)

2. Phần II: Hướng dẫn sử dụng P2P trong hoạt động xét xử tội phạm liên quan đến động vật hoang dã2. Phần II: Hướng dẫn sử dụng P2P trong hoạt động xét xử tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

2. Phần II: Hướng dẫn sử dụng P2P trong hoạt động xét xử tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

2.1. Chương 1: Sử dụng P2P phục vụ cho giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm2.1. Chương 1: Sử dụng P2P phục vụ cho giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

2.1. Chương 1: Sử dụng P2P phục vụ cho giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

2.1.1. Khái quát chung về giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã2.1.1. Khái quát chung về giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã

2.1.1. Khái quát chung về giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự liên quan đến động vật hoang dã

2.1.2. Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lí vụ án liên quan đến động vật hoang dã2.1.2. Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lí vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.1.2. Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lí vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.1.3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến động vật hoang dã2.1.3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.1.3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.1.4. Ban hành các quyết định và tiến hành một số hoạt động khác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm2.1.4. Ban hành các quyết định và tiến hành một số hoạt động khác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

2.1.4. Ban hành các quyết định và tiến hành một số hoạt động khác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

2.1.5. Xác định các vấn đề pháp lý trọng tâm và dự kiến tình huống phát sinh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm2.1.5. Xác định các vấn đề pháp lý trọng tâm và dự kiến tình huống phát sinh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm

2.1.5. Xác định các vấn đề pháp lý trọng tâm và dự kiến tình huống phát sinh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm

2.1.6. Thực hiện các hoạt động cần thiết để chuẩn bị mở phiên toà xét xử sơ thẩm2.1.6. Thực hiện các hoạt động cần thiết để chuẩn bị mở phiên toà xét xử sơ thẩm

2.1.6. Thực hiện các hoạt động cần thiết để chuẩn bị mở phiên toà xét xử sơ thẩm

2.2. Chương 2: Sử dụng P2P Phục vụ cho hoạt động xét xử tại phiên toà sơ thẩm và sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm2.2. Chương 2: Sử dụng P2P Phục vụ cho hoạt động xét xử tại phiên toà sơ thẩm và sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm

2.2. Chương 2: Sử dụng P2P Phục vụ cho hoạt động xét xử tại phiên toà sơ thẩm và sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm

2.2.1. Xác định các vấn đề cần làm rõ khi xét hỏi tại phiên tòa2.2.1. Xác định các vấn đề cần làm rõ khi xét hỏi tại phiên tòa

2.2.1. Xác định các vấn đề cần làm rõ khi xét hỏi tại phiên tòa

2.2.2. Điều hành các hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm2.2.2. Điều hành các hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm

2.2.2. Điều hành các hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm

2.2.3. Xây dựng phần nhận định trong bản án sơ thẩm2.2.3. Xây dựng phần nhận định trong bản án sơ thẩm

2.2.3. Xây dựng phần nhận định trong bản án sơ thẩm

2.2.4. Một số sai sót thường gặp khi không sử dụng P2P trong việc giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã2.2.4. Một số sai sót thường gặp khi không sử dụng P2P trong việc giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.2.4. Một số sai sót thường gặp khi không sử dụng P2P trong việc giải quyết vụ án liên quan đến động vật hoang dã

2.3. Chương 3: Một số tình huống pháp lý điển hình trong xét xử các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã2.3. Chương 3: Một số tình huống pháp lý điển hình trong xét xử các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

2.3. Chương 3: Một số tình huống pháp lý điển hình trong xét xử các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã

2.3.1. Mục đích của việc xây dựng các tình huống tham khảo2.3.1. Mục đích của việc xây dựng các tình huống tham khảo

2.3.1. Mục đích của việc xây dựng các tình huống tham khảo

2.3.2. Phạm vi của các tình huống được lựa chọn2.3.2. Phạm vi của các tình huống được lựa chọn

2.3.2. Phạm vi của các tình huống được lựa chọn

2.3.3. Các tình huống cụ thể2.3.3. Các tình huống cụ thể

2.3.3. Các tình huống cụ thể

Danh mục tài liệu thao khảoDanh mục tài liệu thao khảo

Danh mục tài liệu thao khảo


Copyright 2007-2021 by Wildlife Conservation Society

WCS, the "W" logo, WE STAND FOR WILDLIFE, I STAND FOR WILDLIFE, and STAND FOR WILDLIFE are service marks of Wildlife Conservation Society.

Contact Information
Address: 2300 Southern Boulevard Bronx, New York 10460 | (718) 220-5100