1.2.1.Tội phạm liên quan đến động vật hoang dã xâm phạm tới các loài động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm
Tội phạm liên quan đến ĐVHD xâm phạm đến các loài ĐVHD, trong đó trọng tâm là các loài nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ. Theo quy định tại Công ước CITES và pháp luật Việt Nam, ĐVHD được phân chia theo các mức độ ưu tiên bảo vệ khác nhau, gồm:
- Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I – loài nghiêm cấm khai thác và sử dụng mẫu vật khai thác từ tự nhiên tại Việt Nam vì mục đích thương mại, bao gồm:
- Loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB: là loài thuộc Phụ lục I CITES phân bố tự nhiên tại Việt Nam hoặc được Cơ quan Khoa học CITES Việt Nam đánh giá trên cơ sở tiêu chí của IUCN hoặc Sách Đỏ Việt Nam từ bậc đe dọa nguy cấp (EN) đến cực kỳ Nguy cấp (CR).
- Loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ: ngoài tiêu chí trên còn đáp ứng một trong các tiêu chí là loài đặc hữu; có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường, văn hóa – lịch sử; và không phải là giống vật nuôi nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
- Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm II – hạn chế khai thác và sử dụng tại Việt Nam vì mục đích thương mại, bao gồm:
- Loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB:
+ Loài hiện có tên trong Phụ lục II, III CITES phân bố tự nhiên tại Việt Nam;
+ Loài hiện có tên trong Danh lục Đỏ IUCN ở bậc đe dọa từ sẽ nguy cấp (VU) trở lên hoặc loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam ở bậc đe dọa từ sẽ nguy cấp (VU) trở lên được Cơ quan Khoa học CITES Việt Nam đánh giá cần có biện pháp quản lý hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại;
+ Là loài không thuộc các loài phía trên, nhưng được đánh giá là đang bị khai thác và buôn bán quá mức hoặc theo tiêu chí của IUCN được Cơ quan Khoa học CITES Việt Nam đánh giá là có khả năng sẽ bị nguy cấp trong tự nhiên, cần có biện pháp quản lý hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.
Theo đó, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm đã được ban hành tại Phụ lục I kèm theo Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT. Danh mục này sẽ được cập nhật sửa đổi, bổ sung trên cơ sở đánh giá mức độ nguy cấp của loài.
- Các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc các Phụ lục CITES:
- Phụ lục I CITES gồm những loài động vật, thực vật hoang dã bị đe doạ tuyệt chủng, bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật khai thác từ tự nhiên vì mục đích thương mại và các loài lai với loài thuộc Phụ lục I CITES;
- Phụ lục II CITES gồm những loài động vật, thực vật hoang dã hiện chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có thể sẽ bị tuyệt chủng nếu hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật những loài này khai thác từ tự nhiên vì mục đích thương mại không được kiểm soát và các loài lai với loài thuộc Phụ lục II CITES trừ các loài lai với loài thuộc Phụ lục I CITES)
- Phụ lục III CITES gồm những loài động vật, thực vật hoang dã mà một quốc gia thành viên CITES yêu cầu các quốc gia thành viên khác hợp tác để kiểm soát hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu vì mục đích thương mại và các loài lai với các loài thuộc Phụ lục III CITES (trừ loài lai với loài thuộc Phụ lục I hoặc Phụ lục II CITES)
- Động vật rừng thông thường là các loài động vật thuộc lớp thú, chim, bò sát, lưỡng cư, côn trùng có môi trường sinh sống tự nhiên trong rừng và không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được ban hành kèm theo Thông tư 85/2025/TT-BNNMT; Phụ lục CITES; động vật nuôi theo quy định của pháp luật về chăn nuôi; loài thủy sản theo quy định của pháp luật về thủy sản; Danh mục loài ngoại lai xâm hại.
1.2.2. Hành vi phạm tội của tội phạm liên quan đến động vật hoang dã thường mang tính đa dạng, liên kết chuỗi
Hành vi của tội phạm liên quan đến ĐVHD có đặc điểm đa dạng, diễn ra ở nhiều khâu khác nhau trong chuỗi khai thác và kinh doanh bất hợp pháp (từ săn bắt, nuôi nhốt, vận chuyển, tàng trữ đến buôn bán), thường vi phạm các quy định quản lý của Nhà nước, có tính chất liên kết chặt chẽ và ngày càng tinh vi, phức tạp. Hình thức thể hiện của hành vi khách quan có thể kể đến một số nhóm hành vi điển hình sau:
Một là, hành vi săn bắt, giết ĐVHD: là hành vi xâm phạm trực tiếp đến sự tồn tại, trạng thái tự nhiên và quần thể của ĐVHD. Theo đó, săn bắt trái phép ĐVHD là hành vi bắt giữ, chiếm giữ các cá thể ĐVHD còn sống mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Giết trái phép ĐVHD là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của động vật, làm cho động vật chết một cách bất thường thông qua việc sử dụng các phương tiện, công cụ hoặc biện pháp tác động khác đối với một hoặc nhiều cá thể ĐVHD, không được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Hai là, hành vi nuôi, nhốt ĐVHD: Nuôi các loài có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc từ môi trường nhân tạo nhằm mục đích khác như: bảo tồn, làm cảnh, nghiên cứu khoa học, mục đích thương mại... Việc nuôi ĐVHD hợp pháp là hoạt động nuôi được cơ quan nhà nước cho phép dưới sự kiểm soát về loài nuôi, quá trình nuôi với những điều kiện nhất định theo quy định pháp luật, bao gồm đảm bảo nguồn gốc hợp pháp của các cá thể nuôi, thực hiện báo cáo hoặc đăng ký với cơ quan quản lý, đảm bảo an toàn cho con người, tuân thủ các quy định pháp luật về môi trường, thú y.
Hành vi nuôi, nhốt trái phép ĐVHD là việc nuôi hoặc nhốt các loài ĐVHD mà không tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và bảo vệ ĐVHD, thể hiện qua một hoặc một số hành vi sau đây:
(1) Nuôi, nhốt loài động vật nguy cấp, quý, hiếm, có nguồn gốc tự nhiên khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép;
(2) Nuôi các loài ĐVHD được phép gây nuôi nhưng không có đủ giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp;
(3) Nuôi các loài ĐVHD được phép gây nuôi nhưng không đăng ký mã số cơ sở nuôi hoặc không báo cáo số lượng, biến động số lượng với cơ quan có thẩm quyền;
(4) Nuôi lẫn loài ĐVHD có nguồn gốc hợp pháp và loài không hợp pháp để hợp thức hoá nguồn gốc;
(5) Có đăng ký mã số cơ sở nuôi nhưng nuôi các loài hoặc số lượng cá thể vượt quá trong giấy phép hoặc hồ sơ đăng ký.
Ba là, nhóm hành vi vận chuyển, tàng trữ ĐVHD
Vận chuyển trái phép ĐVHD là hành vi dịch chuyển cá thể, bộ phận hoặc sản phẩm của ĐVHD từ nơi này đến nơi khác, kể cả qua biên giới mà không có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ: Mang ĐVHD hoặc sản phẩm từ chúng từ nước ngoài vào Việt Nam (hoặc ngược lại) mà không khai báo hải quan, không có giấy phép CITES.
Tàng trữ trái phép ĐVHD là việc cất giữ ĐVHD đã chết, bộ phận cơ thể, sản phẩm của ĐVHD tại một nơi nào đó mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép. Ví dụ: Tàng trữ các bộ phận của hổ con, gấu, tê tê, voọc (xương, da, móng…) dù không trực tiếp săn bắt để trưng bày.
Bốn là, hành vi buôn bán ĐVHD: là hoạt động mua bán và giao dịch cá thể, bộ phận cơ thể, sản phẩm ĐVHD nhằm mục đích kiếm lợi nhuận bằng cách mua với giá thấp, bán với giá cao hoặc dùng vật phẩm có giá trị đổi lấy động vật rồi bán lại. Hành vi này thường liên quan đến việc săn bắt, thu thập hoặc nuôi nhốt các loài động vật, sau đó cung cấp cho thị trường thú cưng, công nghiệp, thực phẩm hoặc chế biến thành sản phẩm y học, thuốc quý.
1.2.3. Tội phạm liên quan đến động vật hoang dã thường là loại tội phạm phi truyền thống, có tính chất xuyên quốc gia và ứng dụng công nghệ cao
Tội phạm liên quan đến ĐVHD được xếp vào nhóm tội phạm phi truyền thống, có nhiều đặc điểm khác biệt so với các loại tội phạm truyền thống. Trước hết, loại tội phạm này thường có tính chất xuyên quốc gia, với sự tham gia của các đường dây, tổ chức tội phạm hoạt động qua nhiều quốc gia và khu vực khác nhau, từ khai thác, vận chuyển đến tiêu thụ.
Bên cạnh đó, các đối tượng phạm tội ngày càng tận dụng sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội để thực hiện hành vi vi phạm, như quảng cáo, mua bán, giao dịch ĐVHD trực tuyến, sử dụng các nền tảng thanh toán điện tử hoặc trung gian để che giấu dòng tiền. Phương thức, thủ đoạn phạm tội vì vậy ngày càng tinh vi, khó phát hiện và xử lý.
Ngoài ra, hoạt động phạm tội thường có tổ chức chặt chẽ, phân công vai trò cụ thể giữa các khâu trong chuỗi cung ứng bất hợp pháp, từ săn bắt, vận chuyển, chế biến đến tiêu thụ, làm gia tăng tính nguy hiểm và phức tạp trong công tác đấu tranh phòng, chống.
1.2.4. Tội phạm liên quan đến động vật hoang dã thường có sự hội tụ và liên kết với nhiều loại tội phạm khác
Tội phạm liên quan đến ĐVHD không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều loại tội phạm khác trong hệ thống pháp luật hình sự. Bên cạnh việc xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý, bảo vệ ĐVHD và môi trường, các hành vi này còn gián tiếp xâm phạm đến nhiều khách thể khác như trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, an toàn xã hội và hoạt động công vụ.
Đặc biệt, do mang lại lợi nhuận lớn, hoạt động buôn bán ĐVHD thường gắn liền với hành vi rửa tiền nhằm hợp thức hóa nguồn thu bất hợp pháp thông qua các giao dịch tài chính phức tạp, doanh nghiệp bình phong hoặc đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp. Vì vậy, tội phạm liên quan đến ĐVHD được xem là một trong những tội phạm nguồn của tội rửa tiền.
Ngoài ra, loại tội phạm này còn có thể liên quan đến các hành vi vi phạm khác như giả mạo trong công tác, làm giả giấy tờ, tài liệu nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc mẫu vật; vi phạm quy định về hải quan, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che, tiếp tay cho hành vi vi phạm.
Trong phạm vi của cuốn tài liệu này, nhóm tác giả sẽ đề cập đến một số loại tội phạm có liên quan trực tiếp đến tội phạm liên quan đến ĐVHD trong bảng Chỉ dẫn P2P dưới đây.
Điều 4 Thông tư 85/2025/TT-BNNMT
TS. Hà Lệ Thuỷ (Chủ biên), Cẩm nang kỹ năng nhận diện và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD, Trường Đại học Luật, Đại học Huế, NXB. Công an nhân dân tr. 19-27
PGS. TS. Đinh Văn Quế, Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015 (phần hai các tội phạm), NXB. Thông tin và Truyền thông, 2023, tr.332